Dấu hiệu tội công nhiên chiếm đoạt tài sản theo quy định pháp luật

Công nhiên chiếm đoạt tài sản là tội phạm được quy định tại chương các tội xâm phạm quyền sở hữu. Dấu hiệu tội công nhiên chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật là gì?

Dấu hiệu tội công nhiên chiếm đoạt tài sản theo quy định pháp luật
Dấu hiệu tội công nhiên chiếm đoạt tài sản theo quy định pháp luật 2

Công nhiên chiếm đoạt tài sản là gì?

Công nhiên chiếm đoạt tài sản là hành vi lợi dụng sơ hở, vướng mắc của người quản lý tài sản để lấy tài sản một cách công khai. Người quản lý tài sản tuy biết được tài sản đang bị chiếm đoạt nhưng không có khả năng bảo vệ tài sản.

Ví dụ tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

Ví dụ tội công nhiên chiếm đoạt tài sản trên thực tế bao gồm:

– Người phạm tội lợi dụng người quản lý tài sản đang bị bệnh nặng nằm một chỗ không thể di chuyển để công khai lấy tài sản của họ.

– Người phạm tội lợi dụng người quản lý tài sản đang ở một khoảng cách xa nơi có tài sản để công khai lấy tài sản của họ.

– Người phạm tội gây gổ đánh nhau, sau đó vô tình nhìn thấy tài sản của bị hại nên lấy. Người bị hại mặc dù thấy tài sản của mình bị người khác lấy mất nhưng vì sức yếu hơn nên không thể phản kháng.

Xem thêm các vụ án công nhiên chiếm đoạt tài sản.

Dấu hiệu tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

Dấu hiệu tội công nhiên chiếm đoạt tài sản bao gồm các yếu tố sau:

Dấu hiệu tội công nhiên chiếm đoạt tài sản về chủ thể

Người phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì Điều 172 tội công nhiên chiếm đoạt tài sản không thuộc trường hợp truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự.

Dấu hiệu tội công nhiên chiếm đoạt tài sản về khách thể

Khách thể của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ. Trong tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, người phạm tội không xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người bị hại. Nếu người phạm tội có hành vi xâm phạm đến nhân thân của người phạm tội mà đủ điều kiện cấu thành tội phạm khác thì người phạm tội còn có thể bị truy cứu thêm trách nhiệm hình sự về tội đó.

Dấu hiệu tội công nhiên chiếm đoạt tài sản về mặt khách quan

Về hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản:

– Đặc trưng của hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản là chiếm đoạt một cách công khai và người quản lý tài sản mặc dù biết nhưng không có khả năng bảo vệ tài sản.

– Thủ đoạn của người phạm tội là lợi dụng sơ hở, vướng mắc của người quản lý tài sản hoặc lợi dụng hoàn cảnh khách quan như thiên tai, hoả hoạn, chiến tranh để chiếm đoạt tài sản.

Về hậu quả của công nhiên chiếm đoạt tài sản:

– Hậu quả của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là thiệt hại về mặt tài sản. Người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên.

– Trường hợp tài sản bị chiếm đoạt dưới 2 triệu đồng, thì người phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu họ đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 173, 174, 175, 290 Bộ luật Hình sự, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ hoặc phạm tội gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

Dấu hiệu tội công nhiên chiếm đoạt tài sản về mặt chủ quan

Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được thực hiện với lỗi cố ý. Mục đích của người phạm tội là chiếm đoạt tài sản của nạn nhân. Mục đích chiếm đoạt tài sản phải có trước khi người phạm tội thực hiện hành vi.

5/5 - (1 bình chọn)